Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008
Thứ Ba, 9 tháng 9, 2008
Thứ Ba, 26 tháng 8, 2008
Về thơ LỤC BÁT
Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Tới Cà Mau - Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?
Chiều chiều nghe vượn hú
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước lìa nguồn
Đôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa
Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…
SƠN NAM - Hương rừng Cà Mau
NgườiViệt thường tự hào về thơ Lục Bát qua các tác phẩm như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên…Trước đây tôi vẫn lầm tưởng là Lục Bát là một thể thơ của ngườI Việt. Khi học ở DH Vạn Hạnh tôi có nghe hình như là Dương Nghiễm Mậu hay Doãn Quốc Sĩ có nói là ngườI Thái cũng có thơ lục bát. Từ đó, nhận thức của tôi đã thay đổi. Tôi nghĩ có lẽ Song thất Lục bát, còn gọilà Lục bát Giáng thất, sự giao duyên giữa Lục bát và Thất ngôn của Đường thi mớI là của ngườI Việt. Riêng thơ lục bát, chỉ cần câu tám thôi cũng có đầy đủ tính chất như một bài Haiku của Nhật. Các bạn hãy đọc tiểu luận dưới đây. Lục bát và các dòng thơ lục bát I. Lục bát Lục bát, lâu nay ta hay có thói quen xem nó thuần Việt. Nhưng không. Đây là thể thơ gần như của chung các dân tộc Đông Nam Á. Bởi cơ cấu ngôn ngữ dị biệt nên “lục bát” mỗi nơi phát triển mỗi khác. Ngay từ cuối thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVII được ghi nhận là thời điểm ra đời của sử thi Akayet Dewa Mưno, lục bát Chăm đã rất chuẩn mực. Trước đó nữa, trong panwơc pađit ca dao Chăm, lục bát là thể thơ được độc quyền sử dụng. Chăm gọi nó là thể ariya. Thử xét qua lục bát Việt và Chăm. 1. Lục bát Chăm gieo vần lưng. Chữ thứ sáu dòng lục hiệp với chữ thứ tư dòng bát: Thei mai mưng deh thei o Drơh phik kuw lo yaum sa urang Ai đến từ đằng kia xa Giống người yêu ta riêng chỉ một người Hiện tượng này cũng thấy trong ca dao Việt: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân 2. Ariya gieo cả vần bằng lẫn vần trắc. Ở trường hợp này, người Chăm gieo vần cũng khá linh hoạt, họ không nhất thiết cứ một cặp bằng rồi đến một cặp trắc. Có khi cả đoạn dài tác giả chỉ sử dụng độc vần bằng, nhưng đột hứng chúng ta thấy vần trắc xuất hiện: Mai baik dei brei pha crong Tangin dei tapong kauk luk mưnhưk Bbuk ai tarung yuw harơk Tangin dei pơk nhjwơh yuw tathi Về đi em cho đùi gác Bàn tay em vuốt, đầu xức dầu thơm Tóc anh bù rối như rơm Tay em vuốt thì mượt như lược chải Đây là loại vần dù hiếm nhưng cũng có xuất hiện trong thơ ca dân gian Việt: Tò vò mà nuôi con nhện Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi Nhưng không như ở lục bát Việt, vần trắc tồn tại khá bình đẳng với vần bằng trong ariya Chăm. Thậm chí trong một bài thơ dài, nó gần như đứng xen kẽ. 3. Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết nên khác với lục bát Việt, số lượng tiếng được đếm trong ariya Chăm cũng khác. Có hai trường hợp xảy ra: - Dạng đếm âm tiết: dòng lục gồm sáu âm tiết và dòng bát tám âm tiết, không lệ thuộc vào lượng chữ trong câu thơ. - Dạng đếm theo lượng trọng âm của từ: Hiện tượng đọc lướt, nén chữ (compression), hay nuốt âm (elision) là chuyện bình thường gần như là thuộc tính của ngôn ngữ đa âm tiết, nhất là trong sáng tác thơ ca. Tiếng Chăm không là ngoại lệ. Dấu vết của cách đếm này cũng có mặt trong vài bài ca dao Việt xưa: Mình nói dối ta mình hãy còn son Ta đi qua ngõ ta thấy con mình bò Con mình những trấu cùng tro Ta đi xách nước tắm cho con mình Nhưng khi lục bát Việt phát triển ổn định, nó dừng lại ở 6-8. Các cách tân sau này không quan tâm đến lượng âm tiết trong câu mà đặt nặng ở vắt dòng và nhất là ngắt nhịp. Thì lục bát Chăm vẫn phát triển theo kiểu trương nở. 4. Về thanh điệu: Cũng như thanh điệu trong lục bát Việt xưa, ariya Chăm phát triển khá linh hoạt. Linh hoạt cả khi thanh điệu của lục bát Việt ổn định ở: Bằng Trắc Bằng / Bằng Trắc Bằng Bằng. Lục bát Việt khi xưa có vần trắc. Và khi bài thơ hơn hai cặp lục bát có lối gieo cả vần bằng lẫn trắc thì chúng mang dáng dấp của thể song thất lục bát. Tò vò mà nuôi con nhện Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi Tò vò ngồi khóc tỉ ti Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đàng nào 5. Ngoài các thể lục bát kể trên, người Chăm còn có thể pauh catwai (biến thể từ ariya) mà mỗi cặp lục bát đều đứng biệt lập như một bài thơ hoàn chỉnh với đầy đủ ý nghĩa, được kết nối liên hoàn đến cả mấy trăm câu mà vẫn thống nhất qua giọng điệu, tư tưởng. Hình thức không khác mấy so với Choka (trường ca) của Nhật (Choka là Shika: 5-7 âm được kết nối liên hoàn). 6. Đến nay, các nhà nghiên cứu chưa thể khẳng định thời điểm ra đời của lục bát, càng không biết dân tộc nào khai sinh ra nó nữa. Nhưng điều chắc chắn là có sự ảnh hưởng và tác động qua lại. Từ thập niên 50 của thế kỉ trước, giới làm thơ Chăm có sáng tác theo thể lục bát thuần Việt: ổn định, chỉ gieo vần bằng và hiệp vần ở chữ thứ 6 dòng bát. Dù vậy, cái khung của ngôn ngữ đa âm tiết vẫn chưa hết “gò bó” thể ariya Chăm. Để nó không bao giờ hết là nó, nghĩa là đặc trưng Chăm. (Phần I này lược tóm từ: “So sánh lục bát Chăm – Việt”, Tạp chí Văn hóa - nghệ thuật, số 09.2001). II. Các dòng/ khuynh hướng lục bát Việt Không kể các tác phẩm cổ điển sáng tác theo thể lục bát như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên,… lục bát hiện đại Việt Nam phát triển theo 4 dòng chính. - Dòng lục bát dân gian, mà lục bát Nguyễn Bính là rất tiêu biểu. Nhịp thơ nhịp nhàng, ngôn ngữ dung dị dễ hiểu, hình ảnh thơ quen thuộc và gần gũi với đời sống thôn quê Việt Nam. Rất gần với ca dao. Sau Nguyễn Bính, đã có nhiều nhà thơ đi theo và phát triển xu hướng lục bát này, Đồng Đức Bốn đậm hơn cả. - Dòng lục bát trí tuệ. Có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận thời Thơ Mới là thành tựu mở đầu. Mới mẻ ở đề tài và ý tưởng, ngôn từ trí tuệ và chắt lọc bên cạnh là độ nén của ý thơ tạo nên thứ thi pháp rất hiện đại. - Dòng lục bát huyền ảo. Dòng này nẩy nở và phát triển mạnh ở miền Nam thời sáng tác [và ảnh hưởng] Phật giáo thịnh hành: Huy Tưởng, Tuệ Mai và nhất là Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng (1973) và Trại hoa đỉnh đồi (1975). Ngôn ngữ thơ mơ mơ hồ hồ bên cạnh hình ảnh mông lung, ý tưởng thiếu rành mạch, tạo một cảm giác miên man, mong manh, huyền ảo. Bài thơ đôi lúc chuyển nhịp khá bất ngờ. - Dòng lục bát hậu hiện đại. Mở đầu bằng Bùi Giáng. Sáng tác của ông giai đoạn sau, nhất là các bài thơ mà tỉ lệ từ Hán Việt lấn át. Có khi bài thơ chỉ là một chuỗi liên hệ âm, thanh, vần, phép nói lái trong ngôn ngữ nối tiếp hoặc chồng chéo lên nhau, lồng vào nhau như thể một ma trận chữ vô nghĩa; rồi cả chuỗi hình ảnh, ý nghĩ dẫm đạp lên nhau, xô đẩy, nhảy cóc rối tù mù. Bài “Ngẫu hứng” đã được Nguyễn Hưng Quốc bình rất độc đáo. Một hôm gầu guốc gầm ghì Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm Bôm ha? đạn hả? bao gồm Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen. Sau Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn Duy sáng tác theo xu hướng này, nhưng không đậm bằng. Các bạn trẻ Sài Gòn sau đó đẩy lục bát hậu hiện đại đi xa hơn nữa. Bên cạnh bốn dòng trên, ta còn thấy sự thể Du Tử Lê đã cố ý cắt nát lục bát bằng các dấu chấm, phẩy, gạch chéo… để tạo nhịp mới, nhịp chỏi cho thể thơ vốn khá mềm mại này – một cố ý thuần kĩ thuật. Nằm nghe - chăn gối rơi. Cùng tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không Tôi nhìn - tôi rất chon von núi non âm bản. - rừng son vẽ.- Buồn Hôm nói chuyện ở Lớp Cử nhân tài năng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh vào năm 2006, một sinh viên tụng ca lục bát Đồng Đức Bốn, bị tôi hỏi vặn: bạn đã đọc lục bát Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư chưa? Câu trả lời là - chưa! Tôi nói: thế thì bạn chưa thể bàn về lục bát được. Đơn giản, nếu là độc giả phổ thông, bạn có thể cảm [cúm, mạo] nhận hay khen chê tùy hứng, nhưng khi bạn đang ngồi giảng đường để trở thành người đọc chuyên nghiệp ở thì tương lai (nhà phê bình, giáo viên dạy văn,…) thì bạn cần đọc hệ thống, nghĩa là phải nhận diện thơ lục bát trong tiến trình của nó. Không thể khác. Trên đây, tôi chỉ phân loại mang tính gợi ý. Đề tài gợi mở nhiều hướng nghiên cứu rộng và sâu hơn.
Inrasara
Thứ Tư, 20 tháng 8, 2008
The spirit of OLYMPIC
Tinh thần Thế vận hội
Đã bị Giết chết
Bài của Alexander McCall Smith
Ngày 18-8-2008
Tôi hy vọng rằng những người dân Trung Quốc thích thú với Thế vận hội Olympic của mình. Nhưng một khi họ thưởng thức xong rồi, mọi người đã ngừng lại và trở về nhà, tôi nghĩ có điều gì đó cần phải được thực hiện để cải tổ hoạt động Olympic. Tôi nghi ngại rằng có nhiều người cảm thấy kinh tởm bởi những gì đã diễn ra trong Thế vận hội song lại không muốn nói huỵch toẹt ra vì họ e là sẽ bị coi là kẻ phá đám.
Có cái gì không ổn đối với Thế vận hội Olympic? Câu trả lời ngắn gọn là: tất cả mọi thứ. Thế nhưng bản thân nó có thể đã được bắt đầu với tinh thần tụ hội. Thể thao thường đúng như cái tên đã được gợi nên của mình: một hoạt động thể chất được cam kết trong một tinh thần vui chơi. Những cuộc thi đấu quá nặng, nguy hiểm chết người không phải là những gì mà thể thao hướng tới. Thể thao là một hoạt động phổ biến nhằm lôi cuốn người dân lại với nhau trong một niềm vui chung. Nó để cho con người có được mối giao tiếp với nhau và trau dồi cá tính cho những người cùng tham gia. Thể thao đã làm cho mọi người tốt,khỏe, vui hơn - và vẫn đang làm như thế.
Thế vận hội Olympic, than ôi!, đã trở nên trái ngược với tất cả những điều này. Sự thối nát đã được trở thành cái mốt với Thế vận hội Berlin [1] bị chính trị hóa như một định mệnh, khi Hitler đã sử dụng Olympic trong một nỗ lực chứng tỏ sức mạnh vượt trội của nước Đức. May mắn thay, y đã bị ngáng trở, và chiến thắng của lực sĩ người Mỹ gốc Phi Jesse Owens [2] là một cú phóng lao tuyệt vời vào mắt Goebbels [3]. Thế nhưng hạt giống đã bị gieo mầm, và đã được hăng hái cày xới bởi Liên bang Sô viết trong suốt Cuộc chiến tranh Lạnh. Chủng loại con người sô-viết quyết chí cho chúng ta thấy những nét ưu tiệt của chủ nghĩa cộng sản bằng sự vượt trội trong thể thao. Và chúng ta hết thảy đều biết chuyện ấy đã dẫn tới đâu: tới cái nhà kính trồng cây để huấn luyện những trẻ em đã được chọn lựa để trở thành các lực sĩ, tới sự không tôn trọng các luật lệ có tính nguyên tắc của thể thao nghiệp dư, và, đương nhiên, tới sự hoài nghi rằng một số trong những nữ lực sĩ Sô-viết cường tráng đó không hoàn toàn đúng như những gì mà họ đã tự cho là như thế.
Người Mỹ đã bước vào cuộc thi tai hại này với niềm vui đầy hăng hái và sung mãn, và Olympic đã trở thành một thứ thay thế cuộc đua thời gian. Trong trường hợp của Hoa Kỳ, các lực sĩ đã được hưởng lợi từ học bổng của trường đại học, là thứ cho phép các vận động viên chuyên nghiệp giả trang thành nghiệp dư [4]. Các quốc gia khác cũng đã thường xuyên thực hiện những phương cách tương tự. Chẳng còn ai là trong sáng ngời ngời nữa.
Sự nhấn mạnh trước đây về tính nghiệp dư, về sau đã bị loại khỏi hiến chương Olympic, nó có nghĩa rằng tính không trung thực đã trở nên một thứ được ghi nhận vào trong chính cơ cấu của hoạt động Olympic. Một khi tính nhà nghề được chấp nhận, khi ấy mọi người có thể không bị hạn chế trước thực tế là họ đã thực sự là những lực sĩ chuyên nghiệp, luôn luôn và dễ dàng nói dối về tình trạng nghiệp dư của mình. Nhưng những gì xảy ra sau đó đã là hình mẫu khác cho biểu hiện sửa đổi sai lạc đã đi tới mối bất hòa. Điều này đã trở thành một thứ tham nhũng có tính chất lừa gạt và mạnh mẻ hơn so với bất cứ thứ gì ta được chứng kiến trước đây, và nó đã đi vào hình thức thương mại.
Sự bảo trợ thương mại đối với các lực sĩ là rất quan trọng ở các quốc gia nơi mà các chính phủ rất miễn cường chi phí cho thể thao. Mọi người đều biết về sự giải cứu tài chính của chính phủ cho Thế vận hội Sydney, song không phải tất cả các chính phủ đều chu cấp hậu hĩ; Chính phủ Mỹ dĩ nhiên là không làm cách này. Cho nên điều đó có nghĩa rằng một số lực sĩ sẽ cần lôi cuốn sự ủng hộ có tính thương mại nếu như họ ở vào một vị thế phải dành toàn bộ thời gian của mình cho luyện tập. Nhưng nếu lối trợ giúp có tính thương mại này là rất hào phóng và độ lượng – như nó thường là vậy – thế rồi các lực sĩ đó sẽ có một ưu thế cao hơn những ai ít được hổ trợ một cách rộng rãi. Các trung tâm huấn luyện, trang thiết bị, vật lý trị liệu v.v.. có thể là rất đắt đỏ.
Chúng ta liệu có thực sự muốn xem một trận đấu mà một trong những yếu tố mang tính quyết định - nếu không phải chỉ có một yếu tố quyết định - sẽ là có bao nhiêu tiền đã được đổ vào một đội tuyển đặc biệt? Và chúng ta có thực sự muốn một tình huống chắc chắn xảy đến, nơi mà những đội tuyển Olympic có khả năng nhất lại được sở hữu bởi các tập đoàn đa quốc gia? Khi đó liệu các lực sĩ có thể sẽ bảo: "Tôi chạy cho cái công ty đó", thay vì bảo "tôi chạy vì đất nước tôi"?
Đưa các quốc gia vào trong sự đánh đồng để được ngang nhau quả là khó khăn với chính họ. Tôi chưa từng được hiểu tại sao những môn thể thao lại cần phải là một vấn đề của chủ nghĩa dân tộc, song đó lại là những gì mà chúng đã trở thành. Các quốc gia cảm thấy rằng họ phải thi đua không ngừng để được tham dự thế vận hội, mà không quan tâm tới việc điều này làm cho họ phải trả giá như thế nào. Cái cung cách là làm sao phải có được một lời tán tụng về tài năng và thành tích cá nhân đã trở thành một thể chế tham lam ngấu nghiến tiền của công chúng và khuyến khích cho lối hoang phí ngông cuồng. Tham dự Olympic có ý nghĩa này cho một quốc gia: đó là gáºn hội Olympic hay một tập hợp những thư vợc cấp vốn khác. Bạn thiên về điều nào: Thế vận hội Olympic hay một tập hợp những thư viện, phòng hòa nhạc, bệnh viện khang trang?
Olympic cũng cổ vũ cho hình thái thô thiển bậc nhất của chủ nghĩa dân tộc ầm ĩ, ngạo mạn và hoan hỉ. Thành tích cá nhân tỏ ra không còn có vị trí đặc biệt nữa: nó trở thành một câu hỏi lớn hơn là có bao nhiêu huy chương mà mỗi quốc gia đã giành được. Thế nhưng tại sao các lực sĩ lại cần phải tranh đua dưới lá cờ tổ quốc mình? Tại sao không làm cho Thế vận hội trở thành một cuộc thi của những cá nhân thôi, với mỗi quốc gia sẽ được quyền đưa tới một số lượng đấu thủ nào đó rồi họ sẽ được đề cử với tư cách như dân chúng, chứ không phải là con tốt thí cầm cờ? [5]
Tiếp theo là vấn đề về những thiệt hại rõ ràng đối với hành tinh mà Thế vận hội Olympic gây ra. Có bao nhiều là bê tông được đổ vào cho cái tên của một Olympic hiện đại? Có bao nhiên tấn carbon dioxide thải vào khí quyển trong cuộc theo đuổi cái món phù hoa này? Có bao nhiêu người dân nghèo khổ phải bỏ nhà ra đi để nhường chỗ cho những sân vận động hoành tráng phô trương và những khách sạn Olympic?
Thực tế không mấy dễ chịu của vấn đề là các Thế vận hội Olympic đang gây nên những thiệt hại trường cửu và lớn lao một cách không thích hợp đối với hành tinh này đúng vào thời điểm khi chúng ta cần phải tìm cách thực hiện mọi điều trên một quy mô nhỏ bé hơn, khiêm nhường nhất. Chúng khích lệ đầu óc con buôn hùng hổ vào một thời điểm khi mà chúng ta đang cần cố gắng khẳng định những giá trị con người hơn là những giá trị của các tập đoàn khổng lồ. Chúng là một thảm họa trong mọi ý nghĩa.
Câu trả lời là gì? Ít nhất chúng ta cần phục hồi một đặc tính thể thao thích đáng hơn và khiêm nhường nhất. Thế vận hội phải được dẫn dắt trên một quy mô nhỏ và mang tính nhân bản. Các vật biểu trưng và sự hãnh diện vênh váo cần được tránh xa để chọn lấy việc tuyên dương thành tích cá nhân. Nói ngắn gọn, con quái vật này cần phải trở lại thành con người.
Cuốn sách gần đây nhất của Alexander McCall Smith là cuốn The Unbearable Lightness of Scones (Nhà xuất bản Polygon) và cuốn The Comfort of Saturdays (Nhà xuất bản Little, Brown).
[1] Olympic lần thứ 11
[2] Jesse Owens (1913-1980): tham gia Olympic Berlin 1936, giành 4 huy chương vàng chạy cự ly 100m, 200m, nhảy xa, chạy tiếp sức (wilipedia)
[3] Goebbels (1897-1945): Bộ trưởng Tuyên truyền Đức quốc xã, với câu nói nổi tiếng 'điều phi lý nói mãi rồi người ta cũng tin'.
[4] " ...Coubertin và tổ chức IOC dự tính từ ban đầu là thế vận hội Olympic chỉ dành cho những vận động viên nghiệp dư. Tính chất không chuyên được xác định bởi sự tôn trọng triệt để với luật không chuyên, một luật lệ có từ thế kỷ 19 làm nền tảng để ngăn không cho các vận động viên chuyên nghiệp tham gia trong các môn thể thao như bơi thuyền và quần vợt..." (wikipedia-vn)
[5] "... Mặc dù Hiến chương Olympic, luật chính thức của Ủy ban Olympic, tuyên bố rằng Olympic là cuộc thi giữa các cá nhân và không phải là giữa các quốc gia nhưng IOC lại phân công các NOC có nhiệm vụ tuyển chọn riêng các đội tuyển Olympic quốc gia..." (wikipedia-VN)
The spirit of OLYMPICS?
Tinh thần Thế vận hội
Đã bị Giết chết
Bài của Alexander McCall Smith
Ngày 18-8-2008
Tôi hy vọng rằng những người dân Trung Quốc thích thú với Thế vận hội Olympic của mình. Nhưng một khi họ thưởng thức xong rồi, mọi người đã ngừng lại và trở về nhà, tôi nghĩ có điều gì đó cần phải được thực hiện để cải tổ hoạt động Olympic. Tôi nghi ngại rằng có nhiều người cảm thấy kinh tởm bởi những gì đã diễn ra trong Thế vận hội song lại không muốn nói huỵch toẹt ra vì họ e là sẽ bị coi là kẻ phá đám.
Có cái gì không ổn đối với Thế vận hội Olympic? Câu trả lời ngắn gọn là: tất cả mọi thứ. Thế nhưng bản thân nó có thể đã được bắt đầu với tinh thần tụ hội. Thể thao thường đúng như cái tên đã được gợi nên của mình: một hoạt động thể chất được cam kết trong một tinh thần vui chơi. Những cuộc thi đấu quá nặng, nguy hiểm chết người không phải là những gì mà thể thao hướng tới. Thể thao là một hoạt động phổ biến nhằm lôi cuốn người dân lại với nhau trong một niềm vui chung. Nó để cho con người có được mối giao tiếp với nhau và trau dồi cá tính cho những người cùng tham gia. Thể thao đã làm cho mọi người tốt,khỏe, vui hơn - và vẫn đang làm như thế.
Thế vận hội Olympic, than ôi!, đã trở nên trái ngược với tất cả những điều này. Sự thối nát đã được trở thành cái mốt với Thế vận hội Berlin [1] bị chính trị hóa như một định mệnh, khi Hitler đã sử dụng Olympic trong một nỗ lực chứng tỏ sức mạnh vượt trội của nước Đức. May mắn thay, y đã bị ngáng trở, và chiến thắng của lực sĩ người Mỹ gốc Phi Jesse Owens [2] là một cú phóng lao tuyệt vời vào mắt Goebbels [3]. Thế nhưng hạt giống đã bị gieo mầm, và đã được hăng hái cày xới bởi Liên bang Sô viết trong suốt Cuộc chiến tranh Lạnh. Chủng loại con người sô-viết quyết chí cho chúng ta thấy những nét ưu tiệt của chủ nghĩa cộng sản bằng sự vượt trội trong thể thao. Và chúng ta hết thảy đều biết chuyện ấy đã dẫn tới đâu: tới cái nhà kính trồng cây để huấn luyện những trẻ em đã được chọn lựa để trở thành các lực sĩ, tới sự không tôn trọng các luật lệ có tính nguyên tắc của thể thao nghiệp dư, và, đương nhiên, tới sự hoài nghi rằng một số trong những nữ lực sĩ Sô-viết cường tráng đó không hoàn toàn đúng như những gì mà họ đã tự cho là như thế.
Người Mỹ đã bước vào cuộc thi tai hại này với niềm vui đầy hăng hái và sung mãn, và Olympic đã trở thành một thứ thay thế cuộc đua thời gian. Trong trường hợp của Hoa Kỳ, các lực sĩ đã được hưởng lợi từ học bổng của trường đại học, là thứ cho phép các vận động viên chuyên nghiệp giả trang thành nghiệp dư [4]. Các quốc gia khác cũng đã thường xuyên thực hiện những phương cách tương tự. Chẳng còn ai là trong sáng ngời ngời nữa.
Sự nhấn mạnh trước đây về tính nghiệp dư, về sau đã bị loại khỏi hiến chương Olympic, nó có nghĩa rằng tính không trung thực đã trở nên một thứ được ghi nhận vào trong chính cơ cấu của hoạt động Olympic. Một khi tính nhà nghề được chấp nhận, khi ấy mọi người có thể không bị hạn chế trước thực tế là họ đã thực sự là những lực sĩ chuyên nghiệp, luôn luôn và dễ dàng nói dối về tình trạng nghiệp dư của mình. Nhưng những gì xảy ra sau đó đã là hình mẫu khác cho biểu hiện sửa đổi sai lạc đã đi tới mối bất hòa. Điều này đã trở thành một thứ tham nhũng có tính chất lừa gạt và mạnh mẻ hơn so với bất cứ thứ gì ta được chứng kiến trước đây, và nó đã đi vào hình thức thương mại.
Sự bảo trợ thương mại đối với các lực sĩ là rất quan trọng ở các quốc gia nơi mà các chính phủ rất miễn cường chi phí cho thể thao. Mọi người đều biết về sự giải cứu tài chính của chính phủ cho Thế vận hội Sydney, song không phải tất cả các chính phủ đều chu cấp hậu hĩ; Chính phủ Mỹ dĩ nhiên là không làm cách này. Cho nên điều đó có nghĩa rằng một số lực sĩ sẽ cần lôi cuốn sự ủng hộ có tính thương mại nếu như họ ở vào một vị thế phải dành toàn bộ thời gian của mình cho luyện tập. Nhưng nếu lối trợ giúp có tính thương mại này là rất hào phóng và độ lượng – như nó thường là vậy – thế rồi các lực sĩ đó sẽ có một ưu thế cao hơn những ai ít được hổ trợ một cách rộng rãi. Các trung tâm huấn luyện, trang thiết bị, vật lý trị liệu v.v.. có thể là rất đắt đỏ.
Chúng ta liệu có thực sự muốn xem một trận đấu mà một trong những yếu tố mang tính quyết định - nếu không phải chỉ có một yếu tố quyết định - sẽ là có bao nhiêu tiền đã được đổ vào một đội tuyển đặc biệt? Và chúng ta có thực sự muốn một tình huống chắc chắn xảy đến, nơi mà những đội tuyển Olympic có khả năng nhất lại được sở hữu bởi các tập đoàn đa quốc gia? Khi đó liệu các lực sĩ có thể sẽ bảo: "Tôi chạy cho cái công ty đó", thay vì bảo "tôi chạy vì đất nước tôi"?
Đưa các quốc gia vào trong sự đánh đồng để được ngang nhau quả là khó khăn với chính họ. Tôi chưa từng được hiểu tại sao những môn thể thao lại cần phải là một vấn đề của chủ nghĩa dân tộc, song đó lại là những gì mà chúng đã trở thành. Các quốc gia cảm thấy rằng họ phải thi đua không ngừng để được tham dự thế vận hội, mà không quan tâm tới việc điều này làm cho họ phải trả giá như thế nào. Cái cung cách là làm sao phải có được một lời tán tụng về tài năng và thành tích cá nhân đã trở thành một thể chế tham lam ngấu nghiến tiền của công chúng và khuyến khích cho lối hoang phí ngông cuồng. Tham dự Olympic có ý nghĩa này cho một quốc gia: đó là gáºn hội Olympic hay một tập hợp những thư vợc cấp vốn khác. Bạn thiên về điều nào: Thế vận hội Olympic hay một tập hợp những thư viện, phòng hòa nhạc, bệnh viện khang trang?
Olympic cũng cổ vũ cho hình thái thô thiển bậc nhất của chủ nghĩa dân tộc ầm ĩ, ngạo mạn và hoan hỉ. Thành tích cá nhân tỏ ra không còn có vị trí đặc biệt nữa: nó trở thành một câu hỏi lớn hơn là có bao nhiêu huy chương mà mỗi quốc gia đã giành được. Thế nhưng tại sao các lực sĩ lại cần phải tranh đua dưới lá cờ tổ quốc mình? Tại sao không làm cho Thế vận hội trở thành một cuộc thi của những cá nhân thôi, với mỗi quốc gia sẽ được quyền đưa tới một số lượng đấu thủ nào đó rồi họ sẽ được đề cử với tư cách như dân chúng, chứ không phải là con tốt thí cầm cờ? [5]
Tiếp theo là vấn đề về những thiệt hại rõ ràng đối với hành tinh mà Thế vận hội Olympic gây ra. Có bao nhiều là bê tông được đổ vào cho cái tên của một Olympic hiện đại? Có bao nhiên tấn carbon dioxide thải vào khí quyển trong cuộc theo đuổi cái món phù hoa này? Có bao nhiêu người dân nghèo khổ phải bỏ nhà ra đi để nhường chỗ cho những sân vận động hoành tráng phô trương và những khách sạn Olympic?
Thực tế không mấy dễ chịu của vấn đề là các Thế vận hội Olympic đang gây nên những thiệt hại trường cửu và lớn lao một cách không thích hợp đối với hành tinh này đúng vào thời điểm khi chúng ta cần phải tìm cách thực hiện mọi điều trên một quy mô nhỏ bé hơn, khiêm nhường nhất. Chúng khích lệ đầu óc con buôn hùng hổ vào một thời điểm khi mà chúng ta đang cần cố gắng khẳng định những giá trị con người hơn là những giá trị của các tập đoàn khổng lồ. Chúng là một thảm họa trong mọi ý nghĩa.
Câu trả lời là gì? Ít nhất chúng ta cần phục hồi một đặc tính thể thao thích đáng hơn và khiêm nhường nhất. Thế vận hội phải được dẫn dắt trên một quy mô nhỏ và mang tính nhân bản. Các vật biểu trưng và sự hãnh diện vênh váo cần được tránh xa để chọn lấy việc tuyên dương thành tích cá nhân. Nói ngắn gọn, con quái vật này cần phải trở lại thành con người.
Cuốn sách gần đây nhất của Alexander McCall Smith là cuốn The Unbearable Lightness of Scones (Nhà xuất bản Polygon) và cuốn The Comfort of Saturdays (Nhà xuất bản Little, Brown).
Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008
[1] Olympic lần thứ 11
[2] Jesse Owens (1913-1980): tham gia Olympic Berlin 1936, giành 4 huy chương vàng chạy cự ly 100m, 200m, nhảy xa, chạy tiếp sức (wilipedia)
[3] Goebbels (1897-1945): Bộ trưởng Tuyên truyền Đức quốc xã, với câu nói nổi tiếng 'điều phi lý nói mãi rồi người ta cũng tin'.
[4] " ...Coubertin và tổ chức IOC dự tính từ ban đầu là thế vận hội Olympic chỉ dành cho những vận động viên nghiệp dư. Tính chất không chuyên được xác định bởi sự tôn trọng triệt để với luật không chuyên, một luật lệ có từ thế kỷ 19 làm nền tảng để ngăn không cho các vận động viên chuyên nghiệp tham gia trong các môn thể thao như bơi thuyền và quần vợt..." (wikipedia-vn)
[5] "... Mặc dù Hiến chương Olympic, luật chính thức của Ủy ban Olympic, tuyên bố rằng Olympic là cuộc thi giữa các cá nhân và không phải là giữa các quốc gia nhưng IOC lại phân công các NOC có nhiệm vụ tuyển chọn riêng các đội tuyển Olympic quốc gia..." (wikipedia-VN)
Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2008
Đi NHA TRANG (How to go to NHA TRANG)
Hiện giờ, chúng ta có thể đi NHA TRANG bằng nhiều cách:
XE ĐÒ (ngồi phê à nghe),
XE RIÊNG (Bây giờ thi nhiều),
MÁY BAY, XE GẮN MÁY (bây giờ chia làm 2 loạI là Xe máy- nhỏ hơn 50cc- xe mô tô –trên 50cc). Trước đây XE MÁY là “xe đạp”.
Và XE LỬA. Thường đi từ ga Sài Gòn. (ảnh trên)
Vì đi vào ban đêm (khởi hành lúc khoảng 8:30, theo lịch trình thì sẽ đến Nha Trang lúc 5,6 giờ sáng.
Toa có 3 loại.
Toa có gường nằm (4 gường)
Toa ghế mềm (như ghế máy bay, ngữa ra sau được).
Và ghế loại INDIANA JONES (Vì giống trong một phim của Indi
Tàu luôn phục vụ MÌ TÔM (tại sao lại kêu là MÌ TÔM hé) tại restaurant ở toa INDI
RESTAURANT "The Ramen's"
Ga Nha Trang
Ga THÁP CHÀM
Nhìn ga cũ, chắc lúc trước là điểm dừng quan trọng của tuyến. Nay thì thế này đây
Trước khi tới Ga Tháp Chàm, thì Tháp Chàm đã hiện rõ trên đường chân trời
GA MƯỜNG MÁN
Cái tên rất quen thuộc vì có nhà văn Mường Mán. Từ Mường Mán ra Mũi Né chừng 20 km. Vì vậy muốn đi Mũi Né bằng xe lửa (ý lộn TẦU HỎA) thì ra Mường Mán rồi xuống.
Muốn nhìn các ga thì nên đi vào ban ngày, hoặc lúc về chọn chuyến trưa thì hay nhứt.
Cơm chiều trên tàu, 2chục ngàn (20 nghìn)
Từ sau 1975, các thành phố trong Nam thay đổi đến chóng mặt. Có lẽ nhiều người muốn các thành phố mang một diện mạo mới, vì vậy những gì xưa cũ dần dần mất đi. Nhưng bỗng có lúc, người ta mới giật mình tự hỏi, tại sao mình không cố giữ nó lại nhỉ? Thế là nhà rường Huế, các nhà cổ ...lại được bảo tồn...nhưng không biêt có trễ hay không?
Riêng Nha Trang, có những thứ tưởng tầm thường, nhưng thiếu nó, không thể gọi là Nha Thành, và hình như người ta cũng không nỡ bỏ nó đi. Chẳng hạn như hàng phi-lao (philaos?), những cây bàng mà mùa của nó đúng là mùi biển.
Vẫn còn những cây bàng cổ thụ
Xóm chài vẫn còn đó, nhưng sơ sác quá. Hình như đang bị giải tỏa.
Vì nằm trên đường Trần PHÚ, sát bải biển.
Quý anh mình đừng có tham PHÚ mà phụ BẦN nhen.
Nhìn từ cầu nằm trên đường TRẦN PHÚ
Tháp bà PONAGAR
Từ trên cầu nhìn về biển
Bải biển Nha Trang
Trên biển Nha Trang, có mấy ông già câu cá bằng cách ngồi trong một cái thùng mốp, trôi giữa biển để câu cá hầu, một loại cá để làm chả. Rất tiếc chụp ảnh không được.
Đi Nha Trang nhớ ăn con này nghe. Ăn sống ngọt cực kỳ
Nếu có qua Hòn ngọc Việt (Vinpearl) thì nên xem nhạc nước. Theo tôi nghĩ thì hay hơn nhạc nước ở Singapore vì mang tính nghệ thuật nhiều hơn.
Mình có thể qua Hòn Ngọc Việt bằng phà hay cáp treo
Một trong những bải tắm nổi tiếng là Bải Dài ở Cam Ranh. Đi từ Nha Trang mất khoảng 30 phút bằng xe hơi.
Tấm hình này "chộp" ké một cặp đang "đóng phim" trước ngày cưới. Nghe đâu tối sơ sơ "chỉ 10 triệu". Cô dâu bị hành hạ thê thảm
Bình minh Nha Trang
Hoàng hôn Nha Trang
Vịnh NHA TRANG về chiều
Bình minh
Vài hình ảnh trên đường đi
Ảnh trên gợi nhớ bài NƯƠNG CHIỀU của PD, "trâu bò về giục mõ xa xôi...hỡi chiều...". Nhưng khói này là khói đốt rẫy trên núi chớ không phải khói lam chiều đâu nhé.
Thứ Ba, 22 tháng 7, 2008
CHUYỆN CỔ TÍCH ĐỜI NAY
Câu chuyện này cũng ly kỳ như chuyện em bé gái đi lạc và sống trong rừng. Cứ tưởng tượng một chút, mình sẽ thấy nhiều chi tiết lý thú và thơ mộng
Cổ tích ở làng Tung Amô
20-07-2008 01:49:36 GMT +7
| |
| Vợ chồng ông Lê Như Khoa ở làng Tung Amô |
LTS: Con người có số phận kỳ lạ dưới đây là ông Lê Như Khoa ở làng Tung Amô, xã Ia Dreng, huyện Chư Sê - Gia Lai. Chỉ vì chút mặc cảm, ông đã tự biến mình thành “liệt sĩ” hơn 30 năm và sống âm thầm trong một ngôi làng heo hút...
Tôi nhập ngũ cuối năm 1965. Đơn vị của tôi lúc ấy là Đại đội 1, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 30, tỉnh Hà Nam. Sau thời gian huấn luyện, cuối năm 1966, chúng tôi được lệnh đi B. Mùa khô năm 1967, đơn vị tôi mới đến Trạm Lập của khu I (huyện Kbang- Gia Lai ngày nay). Từ hồi vào bộ đội, tôi chỉ làm mỗi nhiệm vụ cấp dưỡng... Cho đến cuối năm 1971, tôi được điều về Tỉnh đội Gia Lai. Cứ nghĩ lần này chắc thoát, ai ngờ lại vẫn nhiệm vụ đáng chán là làm cấp dưỡng. Và cái lối rẽ oái oăm của đời tôi cũng bắt đầu từ đây...
Gặp người con gái Jrai
Trong tổ nuôi quân của tôi lúc ấy có ba, bốn nữ gì đó, nhưng chỉ Rơma H’choah, người Jrai, là trẻ nhất. H’choah lúc ấy mới 20, kém tôi những 15 tuổi. Chiến trường bấy giờ gian khổ lắm. Để bồi dưỡng cho thương binh, ngày ngày tôi và H’choah phải vào rừng kiếm rau và vào các làng mua thực phẩm. Sự gần gũi trong công việc đã khiến tình yêu đến lúc nào không hay. Cũng xin nói thêm là trước khi đi bộ đội, tôi đã có vợ và hai con, song vì không hợp nhau nên chúng tôi đã ly hôn. Tất nhiên, bấy giờ về tình trạng hôn nhân, tôi là người tự do. Chúng tôi báo cáo tổ chức. Một bữa liên hoan đơn giản chứng kiến chúng tôi nên vợ nên chồng.
Khi H’choah mang thai được hơn tháng thì một biến cố xảy ra: giặc càn vào cứ. Một quả bom nổ gần khiến tai tôi gần như điếc đặc, hai mắt mờ đi vì khói đạn hóa học. Thấy sức khỏe tôi yếu hẳn, đơn vị cho ra miền Bắc an dưỡng. Còn H’choah, trước việc chẳng đừng, đơn vị cũng phải để cô về nhà nghỉ sinh.
Chúng tôi chia tay bịn rịn. H’choah khóc như mưa như gió. H’choah chỉ nói được một câu duy nhất: “Nhanh vào với em! Đừng bỏ em!”. Rồi như sợ mình khuỵu xuống, H’choah đi như chạy vào cánh rừng thưa trước mặt. Nhìn cái dáng nhỏ nhắn của H’choah đang khuất dần, ruột gan tôi như nẫu ra. Cô ấy về làng rồi sẽ sống ra sao, ai giúp đỡ cô ấy trong lúc vượt cạn? Chiến tranh còn ác liệt, bom đạn bời bời thế này, điều gì sẽ xảy ra? Nhỡ mình hy sinh thì giọt máu của mình ai biết? Không cưỡng nổi tình cảm đang cuồn cuộn trong người, tôi đuổi theo H’choah, cuống quýt gọi: “H’choah, H’choah – đợi anh với!”.
Trở thành người Jrai
Nằm trong vùng giải phóng, làng Tung Amô bị bom đạn địch cày xới xác xơ. Hai vợ chồng phải xin ở nhờ nhà một người bà con rồi bắt tay vào làm rẫy ngay để có cái ăn. Để tránh bên ngoài nhòm ngó, tôi đổi họ thành Rơ Châm và học nói tiếng Jrai. Sự ăn mặc của tôi cũng dần dần thay đổi. Lúc đầu còn quần dài, sau thấy vướng tôi chỉ mặc quần đùi. Và khi quần đùi rách hết thì chuyển sang đóng khố. Chừng ba năm sau ngày theo H’choah về làng, không ai nhận ra tôi là người Kinh nữa: mặc khố, đeo gùi, hút thuốc bằng tẩu..., và trong hội làng tôi cũng ăn bốc, ngồi lê la trên đất như ai. Tôi đã tự đồng hóa mình bởi không muốn bị cô lập trong làng. Đặc biệt là khi tôi nói thạo tiếng Jrai thì H’choah không nói chuyện với tôi bằng tiếng Kinh nữa. Tiếng mẹ đẻ rơi rụng dần thì ký ức cũng phai nhạt trong tôi. Quê hương, họ hàng chỉ còn là một cái bóng xa mờ. Thật ra, nhiều đêm một mình trong chòi rẫy giữa rừng, những chút gì mờ nhạt về quê hương, quá khứ vẫn quặn lên trong tôi. Đã có lúc tôi nghĩ, hay là cứ liều về quê một chuyến xem họ hàng, con cái thế nào? Thế nhưng cái ý nghĩ khác đó vừa hiện lên thì ngay lập tức đã có một ý nghĩ khác chắn ngang: Về quê thế nào người ta cũng hỏi bấy lâu nay anh đi đâu? Vậy là tôi đành thôi.
Có một kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên: Hình như vào khoảng năm 1985 thì phải - ở gần Tung Amô có một kẻ giết người từ TPHCM trốn lên đây giả dân làm ăn. Trong đoàn công an đi bắt kẻ giết người hôm đó có một anh còn trẻ cứ nhìn tôi chằm chằm, sau đó anh ta hỏi: “Chú có phải là Lê Như Khoa không? Nhìn chú rất giống người trong ảnh cháu thấy ở làng”. “Có người nhận ra mình” – một nỗi sợ hãi làm tôi cuống quýt. Tôi lắc đầu nói bằng tiếng Jrai: “Chắc anh nhầm. Tôi cũng là Khoa nhưng mà Rơ Châm Khoa, người Jrai”. Anh ta lắc đầu thất vọng rồi bỏ đi. Sau sự việc đó tôi càng co mình lại, cố đi ra khỏi làng thật ít.
Cho mãi đến năm 2001, xã Ia Dreng mới thành lập. Nhà nước đầu tư cho trường học, điện, đường. Bấy giờ làng Tung Amô mới mở cửa ra với cuộc sống bên ngoài. Gia đình tôi cũng bắt đầu thay đổi. Những đứa nhỏ được đi học (tôi có 7 đứa con, mấy đứa lớn đều thất học), cuộc sống đã đỡ tù túng nặng nề. Tuy nhiên, sự mặc cảm cố hữu vẫn chưa hề vơi bớt trong tôi. Và có lẽ tôi sẽ như một con người đã chết nếu không gặp Hùng Tĩnh - một ân nhân của tôi.
Cuộc trùng phùng kỳ lạ
Số là khi xã được thành lập, huyện đã cử một đoàn cán bộ địa chính về đo đạc, quy hoạch các công trình. Hôm đo đạc ở làng Tung Amô, Hùng Tĩnh ngẫu nhiên vào nhà tôi xin nước uống. Thấy tôi, anh ta cứ nhìn ngó đầy vẻ nghi hoặc rồi xoắn vào hỏi chuyện. Đấy là người Kinh thứ hai mà tôi được tiếp xúc trong gần ba mươi năm trời! Trước sự nhiệt tình của anh ta, tôi cũng bắt chuyện lại, nhưng phải rất chậm mới nhớ ra được vốn từ. Hóa ra là Hùng Tĩnh cùng huyện Thanh Liêm, kế bên xã tôi. Phải mất rất nhiều thời gian Hùng Tĩnh mới làm cho tôi nhớ lại được tên người thân, bạn bè... Bây giờ thì sự mặc cảm trong tôi cũng dần vơi bớt... Tôi cởi mở kể cho Hùng Tĩnh nghe tất cả. Sau cùng, tôi ngập ngừng hỏi Hùng Tĩnh về hai con tôi gửi bên nội nuôi, không biết còn sống hay bị bom đạn chết rồi. “Nếu có tin tức gì thì nhờ anh báo giùm...” - tôi gửi gắm.
Hùng Tĩnh quả là người nhiệt tình hiếm có. Hôm sau về huyện, anh ấy tìm cách gọi điện về quê tôi. Biết hai con tôi còn sống, gia đình bình yên, Hùng Tĩnh trở vào Tung Amô báo tin và bảo tôi viết thư về. Tôi cầm cây bút mà hai tay run bắn. Những con chữ khó nhọc bò ngoằn ngoèo. Hơn ba chục năm nay, lần đầu tiên tôi mới cầm cây bút và đặt tay lên tờ giấy!
Đầu năm 2002, qua điện thoại, hai con tôi đã tìm được nhà Hùng Tĩnh. Từ ngày biết tin con, tôi đã tưởng tượng đến giây phút này. Tôi sẽ nhào vào ôm lấy chúng, và tiếng khóc sẽ vỡ ra uất nghẹn. Thế nhưng, khi đã gặp nhau, một tấm chắn vô hình làm tôi sững lại. Có lẽ nào hai con người luống tuổi, tóc đã chớm bạc kia lại là con tôi được? Ngày tôi đi B, thằng Long mới 8 tuổi, con Mai 7 tuổi. Còn hai đứa, chúng cũng nhìn tôi nghi hoặc. Lẽ nào cha chúng lại là một ông già đen đúa, lụ khụ đi bên cạnh một bà già mặc váy lộc ngộc. Những lời hỏi han ban đầu cứ như là những người xa lạ bị ép đến gặp nhau. Rất tinh ý, Hùng Tĩnh gợi cho hai đứa con tôi kể chuyện về quê hương, bà con họ hàng. Từng lời chúng kể như những tia chớp lóe sáng trong trí nhớ u u minh minh của tôi. Một sức hút vô hình khiến chúng tôi nhào tới ôm chầm lấy nhau. Những tiếng khóc vỡ ra nghẹn ngào...
Thanh thản
Hàng bao năm nay, cái thôn Đạt Hưng tĩnh lặng của tôi mới xảy ra một chuyện lạ đời như vậy. Ba, bốn ngày liền, nhà thằng Long, con tôi, cứ chật ních người. Cán bộ xã cũng đến làm lễ hạ bằng “Tổ quốc ghi công” của tôi. Vậy là tôi đã chẵn ba chục cái giỗ! Đó là tính từ ngày chính thức nhận danh hiệu liệt sĩ chứ thực sự thì gia đình đã giỗ tôi từ ngày đi B rồi. Từ năm 1965 cho đến 1975, gia đình có tin tức gì về tôi đâu! Bởi thế, sau ngày miền Nam giải phóng chỉ một thời gian ngắn, xã đã đề nghị trên công nhận liệt sĩ và xây nhà tình nghĩa cho các con tôi... “Thế sao giải phóng rồi không về quê, chí ít thì cũng có vài dòng báo tin chứ?”. Ai cũng xoắn vào hỏi tôi câu ấy. Tôi phải kể đi kể lại cái làng Tung Amô ngày ấy thế nào, tôi sống trong cái làng ấy ra sao... Bà con có người cảm động chảy nước mắt.
Tôi định ở lại quê chí ít là một tháng để chuyện trò với anh em, họ hàng cho đã, nhưng mới được hơn mười ngày đã thấy trong bụng như kiến cắn. Ăn uống, tiện nghi sinh hoạt chẳng thiếu thứ gì. Quê tôi bây giờ sướng quá! Thế nhưng với tôi, căn nhà sàn, mùi mồ hôi của bà H’choah và những đứa con thô tháp như giọt mật ong rừng mới thực sự là cuộc sống... Thế là dù họ hàng, con cháu xoắn xuýt, tôi vẫn một mực xin vào lại Tung Amô.
Và bây giờ thì tôi đã có quyền sống thanh thản với những ngày còn lại của cuộc đời.
http://www.nld.com.vn/tintuc/chinh-tri-xa-hoi/phong-su/232662.asp