Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2009

Thể thơ LỤC BÁT

I. Lục bát

Lục bát, lâu nay ta hay có thói quen xem nó thuần Việt. Nhưng không. Đây là thể thơ gần như của chung của các dân tộc Đông Nam Á. Bởi cơ cấu ngôn ngữ dị biệt nên “lục bát” mỗi nơi phát triển mỗi khác. Ngay từ cuối thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVII được ghi nhận là thời điểm ra đời của sử thi Akayet Dewa Mưno, lục bát Chăm đã rất chuẩn mực. Trước đó nữa, trong panwơc pađit ca dao Chăm, lục bát là thể thơ được độc quyền sử dụng. Chăm gọi nó là thể ariya. Thử xét qua lục bát Việt và Chăm.

1. Lục bát Chăm gieo vần lưng. Chữ thứ sáu dòng lục hiệp với chữ thứ tư dòng bát:

Thei mai mưng deh thei o
Drơh phik kuw lo yaum sa urang

Ai đến từ đằng kia xa
Giống người yêu ta riêng chỉ một người

Hiện tượng này cũng thấy trong ca dao Việt:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

2. Ariya gieo cả vần bằng lẫn vần trắc. Ở trường hợp này, người Chăm gieo vần cũng khá linh hoạt, họ không nhất thiết cứ một cặp bằng rồi đến một cặp trắc. Có khi cả đoạn dài tác giả chỉ sử dụng độc vần bằng, nhưng đột hứng chúng ta thấy vần trắc xuất hiện:


Mai baik dei brei pha crong
Tangin dei tapong kauk luk mưnhưk

Bbuk ai tarung yuw harơk
Tangin dei pơk nhjwơh yuw tathi

Về đi em cho đùi gác
Bàn tay em vuốt, đầu xức dầu thơm

Tóc anh bù rối như rơm
Tay em vuốt thì mượt như lược chải

Đây là loại vần dù hiếm nhưng cũng có xuất hiện trong thơ ca dân gian Việt:

Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

Nhưng không như ở lục bát Việt, vần trắc tồn tại khá bình đẳng với vần bằng trong ariya Chăm. Thậm chí trong một bài thơ dài, nó gần như đứng xen kẽ.

3. Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết nên khác với lục bát Việt, số lượng tiếng được đếm trong ariya Chăm cũng khác. Có

hai trường hợp xảy ra:

- Dạng đếm âm tiết: dòng lục gồm sáu âm tiết và dòng bát tám âm tiết, không lệ thuộc vào lượng chữ trong câu thơ.

- Dạng đếm theo lượng trọng âm của từ: Hiện tượng đọc lướt, nén chữ (compression), hay nuốt âm (elision) là chuyện bình thường gần như là thuộc tính của ngôn ngữ đa âm tiết, nhất là trong sáng tác thơ ca. Tiếng Chăm không là ngoại lệ. Dấu vết của cách đếm này cũng có mặt trong vài bài ca dao Việt xưa:

Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ ta thấy con mình bò

Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước tắm cho con mình

Nhưng khi lục bát Việt phát triển ổn định, nó dừng lại ở 6-8. Các cách tân sau này không quan tâm đến lượng âm tiết trong câu mà đặt nặng ở vắt dòng và nhất là ngắt nhịp. Thì lục bát Chăm vẫn phát triển theo kiểu trương nở.

4. Về thanh điệu: Cũng như thanh điệu trong lục bát Việt xưa, ariya Chăm phát triển khá linh hoạt. Linh hoạt cả khi thanh điệu của lục bát Việt ổn định ở: Bằng Trắc Bằng / Bằng Trắc Bằng Bằng. Lục bát Việt khi xưa có vần trắc. Và khi bài thơ hơn hai cặp lục bát có lối gieo cả vần bằng lẫn trắc thì chúng mang dáng dấp của thể song thất lục bát.

Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đàng nào

5. Ngoài các thể lục bát kể trên, người Chăm còn có thể pauh catwai (biến thể từ ariya) mà mỗi cặp lục bát đều đứng biệt lập như một bài thơ hoàn chỉnh với đầy đủ ý nghĩa, được kết nối liên hoàn đến cả mấy trăm câu mà vẫn thống nhất qua giọng điệu, tư tưởng. Hình thức không khác mấy so với Choka (trường ca) của Nhật (Choka là Shika: 5-7 âm được kết nối liên hoàn).

6. Đến nay, các nhà nghiên cứu chưa thể khẳng định thời điểm ra đời của lục bát, càng không biết dân tộc nào khai sinh ra nó nữa. Nhưng điều chắc chắn là có sự ảnh hưởng và tác động qua lại. Từ thập niên 50 của thế kỉ trước, giới làm thơ Chăm có sáng tác theo thể lục bát thuần Việt: ổn định, chỉ gieo vần bằng và hiệp vần ở chữ thứ 6 dòng bát. Dù vậy, cái khung của ngôn ngữ đa âm tiết vẫn chưa hết “gò bó” thể ariya Chăm. Để nó không bao giờ hết là nó, nghĩa là đặc trưng Chăm.

(Phần I này lược tóm từ: “So sánh lục bát Chăm – Việt”, Tạp chí Văn hóa - nghệ thuật, số 09.2001).

II. Các dòng/ khuynh hướng lục bát Việt

Không kể các tác phẩm cổ điển sáng tác theo thể lục bát như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên,… lục bát hiện đại Việt Nam phát triển theo 4 dòng chính:

- Dòng lục bát dân gian, mà lục bát Nguyễn Bính là rất tiêu biểu. Nhịp thơ nhịp nhàng, ngôn ngữ dung dị dễ hiểu, hình ảnh thơ quen thuộc và gần gũi với đời sống thôn quê Việt Nam. Rất gần với ca dao. Sau Nguyễn Bính, đã có nhiều nhà thơ đi theo và phát triển xu hướng lục bát này, Đồng Đức Bốn đậm hơn cả.

- Dòng lục bát trí tuệ. Có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận thời Thơ Mới là thành tựu mở đầu. Mới mẻ ở đề tài và ý tưởng, ngôn từ trí tuệ và chắt lọc bên cạnh là độ nén của ý thơ tạo nên thứ thi pháp rất hiện đại.

- Dòng lục bát huyền ảo. Dòng này nẩy nở và phát triển mạnh ở miền Nam thời sáng tác [và ảnh hưởng] Phật giáo thịnh hành: Huy Tưởng, Tuệ Mai và nhất là Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng (1973) và Trại hoa đỉnh đồi (1975). Ngôn ngữ thơ mơ mơ hồ hồ bên cạnh hình ảnh mông lung, ý tưởng thiếu rành mạch, tạo một cảm giác miên man, mong manh, huyền ảo. Bài thơ đôi lúc chuyển nhịp khá bất ngờ.

- Dòng lục bát hậu hiện đại. Mở đầu bằng Bùi Giáng. Sáng tác của ông giai đoạn sau, nhất là các bài thơ mà tỉ lệ từ Hán Việt lấn át. Có khi bài thơ chỉ là một chuỗi liên hệ âm, thanh, vần, phép nói lái trong ngôn ngữ nối tiếp hoặc chồng chéo lên nhau, lồng vào nhau như thể một ma trận chữ vô nghĩa; rồi cả chuỗi hình ảnh, ý nghĩ dẫm đạp lên nhau, xô đẩy, nhảy cóc rối tù mù. Bài “Ngẫu hứng” đã được Nguyễn Hưng Quốc bình rất độc đáo.

Một hôm gầu guốc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm

Bôm ha? đạn hả? bao gồm
Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen.

Sau Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn Duy sáng tác theo xu hướng này, nhưng không đậm bằng. Các bạn trẻ Sài Gòn sau đó đẩy lục bát hậu hiện đại đi xa hơn nữa.

Bên cạnh bốn dòng trên, ta còn thấy sự thể Du Tử Lê đã cố ý cắt nát lục bát bằng các dấu chấm, phẩy, gạch chéo… để tạo nhịp mới, nhịp chỏi cho thể thơ vốn khá mềm mại này – một cố ý thuần kĩ thuật.

Nằm nghe - chăn gối rơi. Cùng

tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không

Tôi nhìn - tôi rất chon von

núi non âm bản. - rừng son vẽ.- Buồn

Hôm nói chuyện ở Lớp Cử nhân tài năng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh vào năm 2006, một sinh viên tụng ca lục bát Đồng Đức Bốn, bị tôi hỏi vặn: bạn đã đọc lục bát Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư chưa? Câu trả lời là - chưa! Tôi nói: thế thì bạn chưa thể bàn về lục bát được. Đơn giản, nếu là độc giả phổ thông, bạn có thể cảm [cúm, mạo] nhận hay khen chê tùy hứng, nhưng khi bạn đang ngồi giảng đường để trở thành người đọc chuyên nghiệp ở thì tương lai (nhà phê bình, giáo viên dạy văn,…) thì bạn cần đọc hệ thống, nghĩa là phải nhận diện thơ lục bát trong tiến trình của nó. Không thể khác.

INRASARA (Phú Trạm)

http://archive.damau.org/index.php?option=com_content&task=view&id=3778&Itemid=10171





Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2009

Guitarist Ioana GANDRABUR và bài NOCTURNE

Ioana GANDRABUR là một guitarist người Canada, Cô nguyên là người Romania di dân sang Canada. Vốn là người bì mù bẩm sinh, cô đã học guitar và trở thành một guitarist nổi tiếng.

Bài dưới đây là một trong những bài trémolo khó nhất nhưng được cho là hay nhất. Vì lý do này, trong những kỳ thi quốc tế, bài này thường được ban giám khảo hay thí sinh chọn để trình tấu. Bài này tự đề là Nocturne (dạ khúc) hay còn được gọi là Rêverie (mơ mòng). Với ý nhạc phóng túng  đan xen với phần trémolo thật ngọt ngào, thật là một khúc nhạc tuyệt vời. Thường ai cũng tưởng guitar là lãnh địa của các guitarist Tây Ban Nha, nhưng thật ra châu Âu, Mỹ La Tinh cũng có những guitarist kiệt xuất. Bài này do Julio REGONDI  (1822-1872) viết.

Các guitarist Việt Nam như Lê Hoàng Minh (Úc), Trần Hoài Phương...cũng diễn tấu bài này rất mùi. Lê Hoàng Minh đã diễn tấu thành công bài này trong kỳ thi Guitar Quốc tế tại Tokyo năm 2007 và đã đoạt giải nhứt.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2009

Tết Kỷ Sữu

Không khí Tết ở quê có vẻ đầm ấm và "Tết" hơn các đô thị lớn.

Trên đây là chợ Ô Môn

 

Em gái đang đi chợ về


"Cho hai chậu cúc đi anh ơi!"

 

Chợ quê (Lai Vung, Sa đéc). Tôi thấy địa danh mới Đồng Tháp không thích hợp và không đúng nữa, vì Đồng Tháp nói chung có thể xem là toàn vùng U Minh Thượng. Còn Sa Đéc truớc đây cũng như Cần Thơ, là trung tâm của vùng miệt vườn. (Định add dưới này mà không hiểu sao nó chạy lên tuốt ở trên)

Người bán cho biết dưa vàng dùng để chưng bàn thờ rất đẹp nhưng không ngon bằng dưa da xanh. Sự chơn chất của người bán vùng quê có khác.

Hoa được mang từ vùng trồng hoa trong vùng Sa Đéc. Hình trên là một làng trồng hoa ở Lai Vung. Hoa được đặt trên dàn nên tới mùa lũ vẫn không hề hấn gì. (Hình ở đầu trang)

Hoa được ghe bầu đem lên tới Q.7 bày bán ngay tại đường Trần Xuân Soạn đoạn từ Cầu Hàn trở xuống.

 

 

 

Về sớm để đón Giao thừa

 

Ghe nhỏ nhờ ghe lớn "lai dắt" để về cho lẹ.

 

 

 

 

 

Pháo bông đêm giao thừa

 

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2008

GIÁ XĂNG

Công thức tính giá xăng

1. Một lít xăng nhập khẩu đến cảng VN = (giá xăng thị trường Singapore 86 USD/thùng + cước vận chuyển + bảo hiểm)/159 + thuế nhập khẩu 5% + thuế tiêu thụ đặc biệt 10% = 10.646 đồng.

2. Chi phí từ kho đầu mối nhập khẩu đến cửa hàng bán lẻ: 700đ

3. Phí xăng dầu đối với xăng: 500đ

4. Thuế giá trị gia tăng: 10%

* Giá một lít xăng = 1 + 2 + 3 + 4 = 13.446đ

* Giá bán lẻ hiện nay tại thị trường VN: 16.500đ

Như vậy, một lít xăng hiện doanh nghiệp lãi: 16.500đ - 13.446đ = 3.054đ.

Ghi chú: Giá xăng thị trường Singapore ngày 13-10 là 86 USD/thùng, tỉ giá USD/VND ngày 13-10: 16.600 đồng, một thùng xăng = 159 lít.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=283086&ChannelID=11

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2008

TRỜI!

TRỜI ƠI, ....SAO "LỠ NÒNG LÀO"...

Nhưng mà không sao. "Phát huy tinh thần làm chủ tập thể, DÁM NGHĨ DÁM LÀM"....Rồi, "LÀM SAI DÁM SỬA"....

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=282698&ChannelID=10

TT - Theo một cán bộ văn hóa, việc phá hủy văn chỉ Vĩnh Xương là sự “phá hoại nghiêm trọng” đối với di tích văn hóa lịch sử tại Khánh Hòa.

Toàn bộ gạch cổ của văn chỉ Vĩnh Xương đã bị phá dỡ đưa vào Đồng Nai - Ảnh do Trung tâm Quản lý di tích danh lam thắng cảnh Khánh Hòa cung cấp

Ngày 10-10-2008, Sở Văn hóa - thể thao và du lịch (VH-TT&DL) Khánh Hòa đã đến UBND tỉnh báo cáo về việc văn chỉ Vĩnh Xương (123 đường Phương Sài, phường Phương Sơn, TP Nha Trang) bị phá dỡ vào tháng 9-2008 theo nghị quyết của HĐND phường. Đồng thời sở cũng kiến nghị đề xuất chi ngân sách mua lại toàn bộ hiện vật đã bị đem bán đấu giá để khôi phục miếu thờ này (Tuổi Trẻ ngày 10-10).

Nỗi đau… phế tích

Vĩnh Xương (bao gồm khu vực từ Diên An của huyện Diên Khánh xuống TP Nha Trang hiện nay) là một trong năm huyện xưa kia của Khánh Hòa, đồng thời là một trong ba huyện vinh dự có “văn chỉ Vĩnh Xương” được xây dựng theo chỉ dụ của nhà vua (vào năm thứ 5 của triều vua Tự Đức - 1849). Đó là một biểu hiện cho niềm tự hào về truyền thống hiếu học của con người vùng đất Nha Trang xưa.

Theo Sở VH-TT&DL Khánh Hòa, căn cứ tiêu chí xếp hạng di tích thì văn chỉ Vĩnh Xương đủ các điều kiện để được công nhận là một di tích văn hóa. Thế nhưng suốt mấy chục năm qua, văn chỉ Vĩnh Xương đã bị bỏ ngoài “sổ sách” quản lý di tích văn hóa. UBND phường không thực hiện kiểm kê, báo cáo lên các cơ quan quản lý cấp trên theo đúng quy định và luật định.

Phó giám đốc Trung tâm Quản lý di tích danh lam thắng cảnh Khánh Hòa Nguyễn Văn Thích cho rằng việc phá dỡ miếu thờ đạo học là việc làm “rất bậy bạ và rất đau”. Bởi theo các thiết chế giáo dục xưa, hệ thống văn miếu quốc tử giám - văn miếu - văn chỉ - văn từ là một hệ thống tiêu biểu của nền giáo dục cổ. Ngoài các chức năng thờ tự, biểu hiện tinh thần hiếu học, khuyến học, tôn sư trọng đạo… thì đó cũng chính là hệ thống trường học đào tạo hiền tài, thầy đồ nho ở các cấp. Trong đó văn chỉ được coi như là một trường huyện trong hệ thống này.

Cũng theo ông Nguyễn Văn Thích, văn chỉ Vĩnh Xương có nhiều điểm có giá trị gấp mấy lần so với hai văn miếu khác hiện còn trên địa bàn tỉnh. Bởi toàn bộ hệ thống kiến trúc gồm giàn gỗ cột, kèo, đòn tay, trụ lỏng… đã được xây dựng cách đây trên cả trăm năm nhưng hầu như còn nguyên vẹn.

Trên các kiến trúc gỗ đó có chạm trổ rất nhiều họa tiết, hoa văn, chạm đầu rồng theo kiến trúc miếu đình cổ của người Việt rất đẹp và tinh xảo. Đặc biệt, phần đáy kê trụ lỏng đoạn xà ở chánh điện được khắc linh vật hình con tôm lần đầu tiên được tìm thấy ở Khánh Hòa. Ngay cả loại gạch ghè dùng xây văn chỉ Vĩnh Xương cũng là loại gạch cổ rất quý…

Nhưng giờ đây văn chỉ Vĩnh Xương đã trở thành một phế tích…

Phá di tích, bán “rẻ như cho”

Trong thực tế, suốt mấy chục năm qua văn chỉ Vĩnh Xương đã bị chính quyền địa phương chuyển công năng phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Cho đến trước ngày bị phá hủy, hai nhà tả, hữu của văn chỉ Vĩnh Xương được sử dụng để làm lớp học mẫu giáo và lớp học tình thương của phường. Còn miếu thờ phía bắc bị đem cho một gia đình bên cạnh thuê làm nhà kho…

Sau khi tỉnh có chủ trương đầu tư xây dựng trạm y tế mới, HĐND phường Phương Sơn đã có nghị quyết xin chuyển các lớp học thành trạm y tế. Trong hồ sơ đề nghị, phường không hề nói rõ là có cả phần chánh điện cổ của văn chỉ Vĩnh Xương. Đề nghị đó của phường đã được lãnh đạo UBND thành phố Nha Trang “chuẩn y”. Sau đó, toàn bộ di tích văn chỉ Vĩnh Xương sau khi phá dỡ đã bị đem ra bán đấu giá với giá khởi điểm 20 triệu đồng và đã bán được 23 triệu đồng.

Khi tiến hành đập dỡ văn chỉ Vĩnh Xương, theo chị Phạm Thị Hồng Khanh (50 tuổi) - con gái của ông Phạm Thanh - nguyên là ông từ (đã mất) của miếu thờ đạo học, mấy người mua di tích đã cho thu nhặt cả chiếc râu tôm khắc trong trụ gỗ bị gãy ra gói lại mang đi. Từng viên gạch cổ gỡ ra từ di tích cũng được gom nhặt (đến 8.000 viên) để xe di chuyển hết.

Sau đó toàn bộ di vật của văn chỉ Vĩnh Xương đã được những người trúng đấu giá bán lại cho một người ở tỉnh Đồng Nai. Theo các cán bộ văn hóa đã gặp người mua vừa nêu ở Đồng Nai, ông này cho biết đã chi ra 60 triệu đồng để nhờ tìm mua giàn gỗ nhà cổ về làm quán cà phê. Thế nhưng sau khi vừa nhận được giàn gỗ của văn chỉ Vĩnh Xương, qua một đêm bị mất ngủ không rõ vì sao, ông vội vàng thuê xe chở toàn bộ gỗ đem tặng lại một chùa ở Xuân Lộc (Đồng Nai) chứ không dám giữ lại sử dụng…

Giá đắt cho việc phục dựng

Vụ phá di tích, bán di vật văn chỉ Vĩnh Xương được một nhà nghiên cứu sử học ở địa phương phát hiện, vụ việc vỡ lỡ. UBND thành phố Nha Trang liền lập một tổ công tác truy tìm. Tổ công tác đã vào tận Đồng Nai để thương thảo với đại diện của chùa đang cất giữ toàn bộ di vật ấy. Đại diện của chùa đã đưa ra mức “tiền chuộc” là 220 triệu đồng - bao gồm nhiều chi phí phát sinh liên quan cùng thời hạn phải trả lời về việc mua bán này là 15 ngày, kể từ ngày hai bên thỏa thuận.

Ngay sau đó, Sở VH-TT&DL Khánh Hòa cùng UBND TP Nha Trang đã họp liên ngành và thống nhất kiến nghị UBND tỉnh xem xét, chi ngân sách nhà nước mua lại toàn bộ di vật để phục dựng văn chỉ Vĩnh Xương vừa bị đập phá chỉ hơn một tháng. Ngoài việc phải mua lại với chi phí gấp gần mười lần số tiền đã bán trước đó, chi phí phục dựng văn chỉ Vĩnh Xương chắc chắn còn cao hơn nhiều.

Theo Sở VH-TT&DL Khánh Hòa, văn chỉ Vĩnh Xương là “di tích của một nền giáo dục cổ đáng được trân trọng, giữ gìn”. Bởi “rất có giá trị về nhiều mặt như lịch sử truyền thống nền giáo dục cổ; về tín ngưỡng, tâm linh; về kiến trúc nghệ thuật cổ; về dấu tích khoa học kỹ thuật xây dựng cổ…”. Do đó, việc phục dựng là rất cần thiết.

PHAN SÔNG NGÂN